make your friend orgasm

June 10, 2009

untitled 3

Link 1 nói về khúc dạo đầu, người đàn ông thoa chất nhờn, bôi trơn và massage toàn thân cho cô gái.

Link 2 là phần chính của chủ đề, nười đàn ông thọc ngón giữa và ngón đeo nhẫn vào âm đạo cô gái và………… sau 1 phút, cô gái giật nẩy nười liên tục, mặt đỏ, cười như điên dại vì sung sướng.

Link 3 tiếp nối link 2 và người đàn ông giải thích cơ chế sung sướng của phụ nữ khi ta làm như vậy.

http://rapidshare.com/files/242992534/orgasm_1.rar

http://rapidshare.com/files/243015139/orgams_2.rar

http://rapidshare.com/files/243009779/orgasm_3.rar

pass: thai232

manga-super robo alpha2

June 10, 2009

http://www.dra-mata.com/manga/4koma/ag-insert01.jpg

http://rapidshare.com/files/242984223/SRW_Tribute_-_The_Great_Hero__Part_2_of_2_.zip

http://rapidshare.com/files/242984178/SRW_Tribute_-_The_Great_Hero__Part_1_of_2_.zip

http://rapidshare.com/files/242984134/SRW_Tribute_-_Shin_Getter_Robo_-_Try_To_Remember__Part_1_of_3_.zip

http://rapidshare.com/files/242984133/SRW_Alpha_Gaiden_Tribute_-_The_Day_the_Earth_Burned_Out.zip

http://rapidshare.com/files/242984098/SRW_Scramble_Commander_Bonus_Artbook.zip

http://rapidshare.com/files/242984009/SRW_Alpha_2_-_Lost_Children_Chapter_1.zip

Nguồn mở: Mô hình kinh doanh duy nhất có thể sống còn (Phần 1)

May 22, 2009
Sau đây là bài phỏng vấn Michael Tiemann, Phó chủ tịch của Red Hat đồng thời là Chủ tịch của tổ chức Sáng kiến Nguồn mở, nơi đưa ra định nghĩa và phê chuẩn tất cả các giấy phép nguồn mở trên thế giới. Theo Tiemann thì: “…có một vấn đề khủng khiếp trong đó chúng ta đã và đang phát triển phần mềm một cách sai lệch từ 40 năm nay”.

Được biết tới như một nhà lãnh đạo về tư duy và người đi đầu về nguồn mở, Michael Tiemann ngày nay là Phó Chủ tịch phụ trách Các công việc về nguồn mở tại Red Hat. Ông hiện cũng là Chủ tịch của tổ chức Sáng kiến Nguồn mở (OSI) và của quỹ GNOME Foundation. Năm 1989, ông đã đồng sáng lập công ty nguồn mở vì lợi nhuận đầu tiên, Cygnus Solution. Trong một bài phát biểu gần đây, ông đã đưa ra sự hỗ trợ chi tiết, có giải thích rõ cho tính ưu việt của mô hình phát triển nguồn mở, và nhấn mạnh tất cả 5 lợi ích hướng tới sự phát triển của nguồn mở trong danh sách 10 thứ hàng đầu của Liên minh các Giải pháp Nguồn mở OSA.

- OSA Alert: Tôi đã nghe nhiều thứ to tát về “Exonovation – Thúc đẩy sáng chế từ giao diện”, mà ông đã đưa ra như một phát biểu chủ chốt tại hội nghị ETE2009. Ông có thể giải nghĩa cho tôi được không?

Michael Tiemann: Khái niệm “exonovation” sửa chữa một thiếu sót của tiếng Anh. Khái niệm “innovation” dễ làm ta nghĩ đến những thứ xảy ra bên trong các bức tường… tức nội bộ tổ chức. Quả thực, nhiều tổ chức nghĩ về sáng chế như một khả năng trong cốt lõi. Tuy nhiên, qua một cuốn sách được xuất bản năm 2005 bởi John Hagel và John Seely Brown có tên là “The Only Sustainable Edge” (Giao diện bền vững duy nhất), họ đã tranh luận – tôi nghĩ rất hiệu quả – rằng sự phấn khích thực sự trong nền kinh tế mới của thế giới lại tới từ các mối quan hệ do các công ty xây dựng trên các giao diện. Các mối quan hệ B2B thực sự. Khái niệm “exonovation” làm rõ rằng cái mới thú vị tới từ bên ngoài, chứ không phải bên trong một tổ chức.

Hãy để tôi giải thích lý do vì sao ta phải thật lưu tâm về cách đối xử với cái mới theo ngữ cảnh sa sút của cái cũ. Khi ta nhìn vào những gì đang thách thức các công ty phải thắng trong nền kinh tế mới này, mọi người nói về tầm quan trọng của sáng chế, của việc sử dụng công nghệ để cắt giảm chi phí. với tới những thị trường mới và cải thiện dịch vụ khách hàng v.v. Vâng khi chúng ta nhìn vào triển vọng vĩ mô – và tôi ngụ ý là triển vọng siêu vĩ mô – nhiều nhà phân tích công nghiệp đã ước lượng chi phí toàn cầu cho công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) là 3.4 ngàn tỷ USD mỗi năm. Rất nhiều tiền. Vâng, quả thực vậy.

Phần gây sốc của con số đó là việc tranh luận rằng 1 ngàn tỷ USD mỗi năm đang bị lãng phí bởi các ứng dụng sẽ bị bỏ quên trước khi nào đó chúng đi được vào sản xuất, hoặc bởi chúng thiếu các tính năng chủ chốt hoặc bị muộn so với thời điểm cần có mặt v.v. Ngược về năm 2006 khi tôi bắt đầu đặt các con số này cạnh nhau, một trong những thách thức phải đối mặt là việc nhiều người đã không quan tâm về 1/3 của mỗi USD đã bị bỏ phí vào thứ công nghệ tồi tệ bởi vì họ đã quá hạnh phúc với cách mà 2/3 kia tăng trưởng nhanh thế nào. Động thái đó hoàn toàn biến mắt trong năm 2009. Chi 1 USD vào ICT và nhận lại tối đa chỉ có 2/3 USD là hoàn toàn vô lý, đặc biệt ngày nay khi mỗi ngàn tỷ USD trởnên quan trọng biết bao đối với nền kinh tế toàn cầu.

Liệu điều đó không phải là khá phổ biến chăng? Có phải hầu hết các công nghiệp là hoang phí ?

Nếu đúng, thì đó là một tình trạng khủng khiếp, và cần phải chữa trị. Thực tế, phần còn lại trong bài trình bày của tôi đặc biệt nói về cách thức kịch tính mà mô hình nguồn mở chữa trị bệnh này. Chúng ta nhìn vào chi phí của mô hình phần mềm tư hữu theo các tiêu chí về những nỗ lực bị trùng lặp lãng phí, về chất lượng trung bình của phần mềm, về những chiến thuật mà một số nhà cung cấp phần mềm hàng đầu sử dụng để phá huỷ đối thủ cạnh tranh, thậm chí tự hại chính mình để làm hại những người khác. Điều này không cộng hưởng với ý tưởng về xây dựng giá trị.

Xin đưa ra một ví dụ, trong các năm 2004-2006 một công ty gọi là Coverity, chuyên dò tìm lỗi phần mềm, đã thấy trung bình trong 1000 dòng lệnh của phần mềm tư hữu có chứa 20-30 lỗi. Khi họ lần đầu đo nhân Linux vào năm 2004, thì thấy nhân này đã chứa 5.3 triệu dòng mã nguồn. (Để so sánh, Windows XP được cho là nặng ký với khoảng 35 triệu dòng mã lệnh). Nếu Linux đạt chuẩn trung bình của nền công nghiệp thì có thể dự đoán nó có từ 100,000 đến 150,000 lỗi trong tổng số 5.3 triệu dòng mã lệnh, nhưng kiểm tra của Coverity chỉ tìm thấy có 985 lỗi. Cộng đồng Linux có được báo cáo và đã đưa ra một thông điệp nói rằng, “Kìa, chỉ có 985 lỗi, hãy sửa chúng đi!”. Trong vòng 6 tháng, từng lỗi một đã được chỉnh sửa một cách chính đáng. Ngược lại, nếu Microsoft ̣đạt chuẩn trung bình của công nghiệp, thì 35 triệu dòng mã lệnh của XP có thể chứa hơn 7 triệu lỗi! Bạn có thể nhìn thấy vấn đề chứ.

- Vì sao lại có một sự khác biệt lớn như vậy trong tỷ lệ lỗi?

Hãy để tôi bắt đầu với Fred Brooks, người viết một cuốn sách gọi là “Mythical Man Month” (Người-Tháng huyền thoại) về những kinh nghiệm của ông khi quản lý dự án OS360 của IBM, từng là một dự án công nghiệp đắt nhất từ trước tới nay (nó còn đắt hơn cả chi tiêu vào việc phát triển bom nguyên tử). Cuốn sách đã là một lời giải thích muộn mằn cho ông chủ của ông ta – Thomas Watson, Jr. – về việc vì sao có nhiều người thông minh nhất trên thế giới và làm việc với số tiền khổng lồ mà IBM gắng bỏ vào con kênh này, nhưng hệ điều hành OS360 đã quá trễ và không có nhiều tính năng như mong đợi. Fred Brooks đã không có một câu trả lời cho câu hỏi đó trong năm 1964 khi ông bị hỏi, nhưng tới năm 1975 thì ông đã phát triển được một câu trả lời tổng thể. Đầu đề cuốn sách của ông dựa trên sự thực rằng mang thai một đứa trẻ cần 9 tháng, bất kể có bao nhiêu người phụ nữ được chỉ định nhiệm vụ này. Ông đã tranh luận rằng sự phát triển của phần mềm là một quá trình có tổ chức không tuân thủ logic công nghiệp. Ông đã quan sát rằng việc bổ sung thêm nhiều người cho một dự án bị muộn chỉ làm cho nó muộn hơn, và rằng việc chỉ định thêm nhiều người để sửa các lỗi mà chúng không kiểm soát được thực sự sẽ bổ sung thêm nhiều lỗi hơn là loại bỏ nó.

Bây giờ hãy nhìn vào việc có thể quản lý được 985 lỗi xuống còn 0 lỗi, đối nghịch với tình trạng mà chúng ta thấy với Windows XP, mà cuối cùng đã trở thành Vista, và chúng ta tất cả đều biết Microsoft đã khó khăn như thế nào trong việc quản lý dự án này. Tính năng bền vững duy nhất được xuất xưởng của Vista là một tính năng mà không một doanh nghiệp nào muốn: những giao thức kiểm soát media phải bảo đảm theo kiểu Hollywood và nền tảng tính toán phải tin cậy. Về cơ bản, họ phải chắc chắn rằng Hollywood có thể tin tưởng máy tính của bạn ngay cả khi bạn không thể.

- Và nó đầy những lỗi.

Chính xác. Đã được chứng minh rằng việc bổ sung thêm người vào một hệ thống đầy lỗi chỉ làm cho hệ thống tồi tệ hơn mà thôi.

Trong năm 2005, Coverity kiểm tra nhân Linux, được tăng lên tới 5.7 triệu dòng mã lệnh, và thấy rằng mật độ lỗi đã thực sự giảm. Vì thế một số người đã ngạc nhiên liệu có thể nhân Linux đã không được kiểm tra một cách công bằng chăng. Có thể có gì đó làm cho đội viết nhân Linux thông minh vượt bậc chăng. Nên họ đã xem xét 32 ứng dụng nguồn mở khác, từ ngôn ngữ scripting PHP cho tới trình biên dịch GNU C, và những thứ tồi tệ nhất mà họ tìm thấy là 32 chương trình này chỉ 50 lần tốt hơn các phần mềm tư hữu trung bình.

- Mô hình phát triển nguồn mở là gì mà lại tạo ra nhiều sáng chế như vậy và ít lỗi như vậy được?

Trong bài trình bày của tôi, tôi đã chỉ ra một nghiên cứu năm 2001 của James Herbsleb, Roy Fielding và Audris Mockus về máy chủ Web Apache. (“2 trường hợp điển hình về phát triển phần mềm nguồn mở: Apache và Mozilla” được xuất bản trong TOSEM, tháng 07/2002). Họ so sánh một số sự phát triển giữa các kho mã nguồn mở và các phần mềm tư hữu, nhờ một ít công ty đã tình nguyện cho truy cập vào các kho mã nguồn tư hữu. Họ đo đếm – trên công việc của từng lập trình viên trong dự án – số lượng dòng lệnh đã bổ sung, số lượng đã xoá, số lượng đã thay đổi, và có bao nhiêu báo cáo lỗi đã trả lời, và vân vân. Họ xếp hạng chúng theo hoạt động trong đó Lập trình viên 1 là người đã hoạt động nhiều nhất. Trong cả 2 trường hợp của PM tư hữu và nguồn mở, Lập trình viên 1 đã làm khoảng 20% của mọi thứ. Như vậy nếu đúng là các phần mềm được làm theo logic công nghiệp, thì mọi chương trình có thể đã được sản xuất ra bởi 5 lập trình viên. Nhưng tất nhiên chúng ta biết điều đó là không đúng. Khi bạn nhìn vào đồ thị, 5 lập trình viên làm cho bạn được khoảng 40% mọi thứ. Khi bạn có tới 10-15 lập trình viên, bạn bò lên được khoảng 75-80% của mọi thứ.

Lật ra trong thế giới PM tư hữu, kích thước dự án thường có xu hướng khoảng 25-35 lập trình viên, và các dự án đã phô bày những gì chúng ta gọi là “cái đuôi ngắn”. Bạn thấy đồ thị tuyến tính tương đối này (theo phép lôgarit) từ Lập trình viên 1 qua Lập trình viên 25. Vâng, với Apache ngược về năm 2001, họ đã có 388 lập trình viên. Bạn thấy những đặc tính của cái đuôi ngắn trên khoảng 10-15 lập trình viên, nhưng sau đó bạn có được cái đuôi dài khó tin nổi này đối với 388 lập trình viên. Những gì báo chí tranh luận là việc “sự tham gia của các đuôi dài” này dẫn tới nhiều tính năng hơn, được triển khai sớm hơn với ít lỗi hơn.

- Làm thế nào điều đó xảy ra trong thế giới thực được?

Sau khi xem xét rằng kết quả được trình bày bởi giáo sư Herbsleb vào năm 2003, tôi đã phát triển một quan niệm mới trong nghiên cứu này. Hãy tưởng tượng rằng bạn là Lập trình viên 388, được coi như thay đổi một dòng lệnh duy nhất. Có kinh nghiệm thực tế nào đối với lập trình viên này? Liệu có giống người chơi trong dàn nhạc giao hưởng, chờ cả một buổi tối chỉ để gõ có một nốt nhạc duy nhất, và sau đó được trả tiền đầy đủ ? Hoặc liệu chúng ta có tin tưởng – như tôi – rằng Lập trình viên 388 còn không nhận thức được về chính bản thân mình như một lập trình viên của Apache? Có lẽ họ đang làm việc trên một hệ thống khác tương tác với Apache và trong quá trình của nó có thứ gì đó không được mong đợi đã xảy ra. Sau khi đi qua mỗi dòng lệnh đã viết, họ nhận thức được rằng vấn đề này là của Apache. Họ đi xem mã nguồn của Apache và thấy chính xác những gì họ dự kiến – đó là một dòng lệnh cần được sửa đổi … một điều kiện đã được đảo ngược trong một lệnh NẾU (IF) hoặc một kiểm tra đã được bỏ qua, hoặc bất kỳ thứ gì. Họ sửa dòng này và gửi một bản vá tới Apache (mà, này, là nơi mà cái tên này được đặt ra … “a patchy server – một máy chủ được vá”) và bây giờ họ có một máy chủ làm việc đủ cho họ có thể tiếp tục phát triển dự án riêng của họ.

Bây giờ, hãy nhìn vào thế giới của phần mềm tư hữu. Giả sử bạn là một lập trình viên đang làm việc trong một dự án sử dụng một cơ sở dữ liệu tư hữu … Oracle, Microsoft SQL Server, hãy tự chọn cái của bạn. Bạn kết luận rằng sẽ phải có một lỗi trong phần mềm cơ sở dữ liệu, nên bạn gọi nhà cung cấp và nói, “Tôi vừa tìm thấy một lỗi trong cơ sở dữ liệu của các ông”. Bạn có thể tưởng tượng sự phản ứng. Sau khi tiếng cười lắng xuống, nhà cung cấp có thể nói, “Vâng, có thể bạn có, nhưng chúng tôi sẽ không sửa nó”. Hoặc có thể chúng tôi sẽ sửa nó, hoặc đã sửa nó rồi, nhưng bạn không thể có nó cho tới phiên bản tiếp sau. Vâng, vấn đề của bạn là hôm nay, nên bạn có động lực đặt sự khắc phục vào trong mã nguồn của bạn để làm việc với vấn đề này, thứ gì đó hoàn toàn sai và không cần thiết. Ví dụ, bạn có thể gọi điện và nói, “Khi tôi yêu cầu cơ sở dữ liệu 2+2 bằng mấy và nó nói là bằng 5, thì hãy đổi 5 thành 4”. Cực kỳ khó để duy trì sự nói dối, nhưng đây chính xác là những gì xảy ra vì họ không được truy cập tới mã nguồn. Với thời gian, hàng trăm nhà cung cấp cuối cùng sẽ có một kho phần mềm tư hữu mà tất cả đều tự họ tìm đặt sự khắc phục trong những thứ không đúng và không thể duy trì được. Tôi tin tưởng điều này giải thích vì sao phần mềm tư hữu sẽ trở nên rất dễ vỡ, rất khó bảo trì, ngay sau khi triển khai nó. Ngược lại, nó giải thích vì sao phần mềm nguồn mở là rất mềm dẻo. Nó không đầy những rác rưởi như thế.

- Mọi thứ mà chúng có ở đó là vì một lý do tốt lành.

Chính xác. Nếu đi ngược về thực tế chúng ta đang lãng phí 1.000 tỷ USD một năm, và nhìn vào thực tế mô hình phát triển tư hữu đang gây ra cho mỗi lập trình viên tư hữu để đặt bản thân họ vào một tầng lớp đặc biệt tồi tệ bởi việc bị ép phải đưa những ý nghĩ sai lầm vào trong mã nguồn của bản thân họ hơn là làm việc trực tiếp với chủ đề, tôi nghĩ điều này giải thích nhiều về những gì đã được quan sát bởi các khách hàng của phần mềm nguồn mở như Thị trường Chứng khoán New York và Cơ quan An ninh Quốc gia. Cụ thể, phần mềm nguồn mở là tốt hơn, nhanh hơn và rẻ hơn vì trong cốt lõi nó làm việc và có thể được sửa. Những gì bạn nghe trong thế giới PM tư hữu là, “Bạn không thể sửa nó. Có thể chúng tôi sẽ sửa nó, có thể chúng tôi sẽ không sửa”. Những gì vô cùng lớn lao về cộng đồng nguồn mở là việc “bất kỳ ai” không có nghĩa là “bất kỳ ai ở Red Hat” mà là bất kỳ ai trong cộng đồng của nhiều triệu lập trình viên. Khi bạn nhìn vào những so sánh về chất lượng, rõ ràng rằng hiệu ứng mạng đã trở thành sự sử dụng chung.


Dongtac.net

Khoa học tính toán sẽ là ngành mũi nhọn

May 22, 2009
Những chiếc máy tính cá nhân dần dần hiện diện khắp nơi, đi vào mọi mặt, ngõ ngách của đời sống hằng ngày. Laptop, internet, i-phone… gần như không thể thiếu được trong cuộc sống hiện đại. Song nhiều khi ta quên rằng chiếc máy tính, đúng như tên gọi, trước hết là dùng để tính toán!

Việc phát minh và sử dụng đại chúng máy tính điện tử là một trong những thành tựu khoa học kỹ thuật lớn nhất trong thế kỷ 20.

Không còn là “khoa học của nhà giàu”

Khi xem phim “Rain Main”, nhiều người thích thú với nhân vật Raymond có khả năng làm thật nhanh những con tính phức tạp. Một người bình thường ít có thể làm toán nhanh như vậy. Nhưng giả sử có ai làm được một phép nhân hay chia thật dài trong một giây, người đó có thể làm được khoảng một tỉ (109) con tính nếu làm được ngày đêm liên tục trong 50 năm.

Nếu làm công việc siêu phàm đó (dù nhàm chán) bằng cả một nửa đời người đem thay thế bằng máy tính điện tử, thì máy sẽ tốn bao nhiêu thời gian? Với một máy tính đạt vận tốc gigaflops (109 phép tính/giây) thì máy chỉ cần một giây để thực hiện xong số bài toán trên!

Việc xây dựng những chiếc máy tính ngày càng nhỏ, càng nhanh và giá thành càng giảm… là thành tựu xuất sắc của ngành công nghệ thông tin. Theo luật Moore thì sức máy tăng 2 lần sau một năm. Sức tính của máy tính điện tử đo được qua độ lớn của bộ nhớ, vận tốc tính (đo bằng flops), đĩa cứng (gigabytes), cũng như cấu trúc hệ điều hành (như liên tục, song song…). Hiện nay những dàn máy lớn có khả năng teraflops (1012 phép tính/giây) là phổ biến.

Việc sử dụng máy tính điện tử hiệu năng cao trong các ngành khoa học và kỹ thuật đã và đang thay đổi cơ bản tiến trình nghiên cứu khoa học. Các ngành “vật lý tính toán”, “cơ học tính toán”, “hoá học tính toán”, “sinh học tính toán”… đã hình thành và phát triển nhanh chóng. Các ngành khoa học này có điểm chung là tìm thông tin bằng tính toán qua máy tính điện tử.

Với những lý thuyết thích ứng, cùng thuật toán và máy tính, mỗi ngành khoa học tính toán cố gắng giải thích và dự đóan hiện tượng thiên nhiên từ những con tính và mô phỏng lý thuyết,… với độ chính xác cũng như độ phức tạp ngày càng lớn.

Trong một thời gian dài, khi máy tính điện tử bán với giá thật cao và thường chỉ tập trung ở những đại học lớn, các phòng thí nghiệm quốc gia, của những nước tiên tiến, thì khoa học tính toán được xem là “khoa học của nhà giàu”. Cho đến cuối thể kỷ 20, một số tính toán lớn chỉ có thể được thực hiện trong vài nhóm nghiên cứu.

Ngày nay, khi nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới có thể nối song song hàng trăm, hàng nghìn chiếc máy tính cá nhân (PC clusters), với giá thật rẻ so với các dụng cụ thiết bị nghiên cứu khoa học khác, để đạt đến một sức tính lớn, thì ngành khoa học tính toán đang được phổ cập và dân chủ hoá. Khi sự chênh lệch về sức máy tính giữa các nhóm nghiên cứu ở các nước khác nhau không còn quá lớn như trong thập kỷ trước, vấn đề còn lại trên diễn đàn khoa học thế giới là kiến thức, ý tưởng mới và sự sáng tạo…

Chiến lược trong phát triển của nhiều ngành

Sau chiến tranh vì bị cấm vận kinh tế, nên máy tính điện tử mới bắt đầu vào Việt Nam từ khoảng cuối những năm 1970. Ngành công nghệ thông tin đại chúng đã có những bước tiến bộ vượt bậc, nhưng các ngành khoa học tính toán ở nước ta vẫn còn ở mức sơ khai, trong giảng dạy lẫn nghiên cứu.

Thiết nghĩ, các trường đại học, viện nghiên cứu quốc gia… cần thiết lập những trung tâm khoa học tính toán đúng nghĩa, với đầu tư thích ứng về máy tính và nhân sự, để có thể tiếp thu và phát triển ngành khoa học mũi nhọn này.

Chỉ sợ rằng nếu không thực hiện kịp thời và đúng hướng, với vận tốc tăng của máy tính điện tử hiện nay, khoa học Việt Nam lại sẽ bị trễ thêm vài thế hệ máy tính!

Nguyễn Minh Thọ – GS Hoá học, Đại học Leuven, Bỉ (LDCT)

Phân tích kỹ thuật các kiểu gõ bàn phím tiếng Việt

May 22, 2009
Xử lý tiếng Việt là vấn đề rất cũ, nhưng không phải là nhỏ vì ảnh hưởng tới rất nhiều người dùng. Đa phần các bộ gõ tiếng Việt lâu nay không có tài liệu phân tích kỹ thuật chi tiết.

Nhân hợp tác với nhóm m17n thuộc AIST (Viện Khoa Học và Công Nghệ Công Nghiệp Tiên Tiến Nhật Bản) để cải tiến và phát triển các bộ gõ tiếng Việt, Chăm, Thái… trên môi trường Linux mã mở, chúng tôi đã thực hiện một số tài liệu phân tích kỹ thuật một cách bài bản, sau đây xin giới thiệu một số kết quả rút từ những tài liệu đó.

I. Vài số liệu thống kê về hệ thống âm-vần-chữ cái tiếng Việt

Đây không phải là các thống kê ngôn ngữ học mà chỉ tập trung vào các dữ liệu liên quan tới việc xây dựng bộ bàn phím tiếng Việt.

- 1. Tổng số đơn âm tiếng Việt theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi là: 7.432.

Số này cũng xấp xỉ số liệu của GS Hoàng Phê, chủ biên từ điển Chính Tả Tiếng Việt. Số tuyệt đối không quan trọng vì dưới đây chỉ để ý tỉ lệ so sánh tương đối.

- 2. Số âm có dấu thanh: 6.050, tỉ lệ: 81,4%

- 3. Số đơn âm viết có ít nhất một dấu thanh hoặc dấu phụ: 6.761, tỉ lệ: 91%

- 4. Thanh sắc: 1.861, tỉ lệ: 25%

- 5. Thanh nặng: 1.474, tỉ lệ: 19,8%

- 6. Không dấu: 1.382, tỉ lệ: 18,6%

- 7. Thanh huyền: 1.177, tỉ lệ: 15,8%

- 8. Thanh hỏi: 980, tỉ lệ: 13,2%

- 9. Thanh ngã: 558, tỉ lệ: 7,5%

- 10. Số âm có phụ âm đầu: 7110, tỉ lệ: 95,7%

- 11. Số âm không phụ âm đầu: 322, tỉ lệ: 4,3%

- 12. Số dạng tổ hợp nguyên âm (không tính phụ âm cuối): 64

Trong đó:

a. Số nguyên âm đơn: 12 (a, e, o, i, u, y, â, ê, ô, ơ, ă, ư)

b. Tổ hợp kép 2 nguyên âm: 32

c. Tổ hợp kép 3 nguyên âm: 20

- 13. Số vần (tổ hợp nguyên âm + phụ âm cuối): 228

- 14. Có 8 phụ âm cuối: M, N, C, T, P, CH, NG, NH

- 15. Và có 8 phụ âm đầu kép: CH, KH, NG, NGH, NH, TR, TH, PH.

II. Tần suất sử dụng phím

Chúng tôi thực hiện thống kê trên một văn bản thuần Việt và đủ lớn là Truyện Kiều, vì Truyện Kiều là một thể hiện điển hình của tiếng Việt. Chúng tôi đã chọn bản Nôm Liễu Văn Đường (1871), gồm 3.244 câu, 22.708 chữ.

Bảng 1: Dùng kiểu gõ Telex

Trung bình: 4,68 lần gõ phím trên 1 chữ

Phím dùng Số lần gõ Tỉ lệ %
A 12411 11,69
N 10327 9,727
O 9427 8,879
H 6347 5,978
F 6205 5,844
W 6087 5,733
I 5774 5,438
G 5384 5,071
E 5161 4,861
T 5029 4,737
S 4844 4,563
D 4531 4,268
U 4271 4,023
C 3555 3,348
R 2978 2,805
M 2573 2,423
J 2525 2,378
X 1748 1,646
Y 1685 1,587
L 1606 1,513
B 1065 1,003
V 907 0,854
K 719 0,677
P 700 0.659
Q 310 0,292
Tính theo hàng
home row 44572 41,982
qwer row 41422 39,015
zxcv row 20175 19,003
num row 0 0
Tổng số lượt gõ 106169

Bảng 2: Dùng kiểu gõ VNI

Trung bình: 4,72 lần gõ phím trên 1 chữ

Phím dùng Số lần gõ Tỉ lệ %
N 10327 9,621
A 10141 9,448
O 7523 7,009
6 6384 5,948

H

6347 5,913
2 6205 5,781
I 5774 5,379
U 5438 5,066
G 5384 5,016
T 5029 4,685
7 4938 4,601
1 4006 3,732
C 3555 3,312
E 2951 2,749
D 2653 2,472
M 2573 2,397
5 2525 2,352
9 1878 1,75
Y 1685 1,57
L 1606 1,496
R 1602 1,493
3 1376 1,282
4 1252 1,166
8 1149 1,07
B 1065 0,992
V 907 0,845
S 838 0,781
K 719 0,67
0,67 700 0,652
X 496 0,462
Q 310 0,289
Tính theo hàng
home row 27688 25,796
qwer row 29327 27,323
zxcv row 20608 19,201
num row 29713 27,682
Tổng số lượt gõ 107336

Bảng 3: Tần suất sử dụng các vần

(chỉ kê ra 32 vần thông dụng nhất)

Vần Số lần Tỉ lệ %
a 140 1 6,153
ai 781 3,430
ơi 697 3,061
ang 679 2,982
ay 654 2,872
i 644 2,828
ên 603 2,648
ao 581 2,552
ong 568 2,495
ây 566 2,486
o 561 2,464
inh 544 2,389
ương 510 2,240

ôi

509 2,235
ăng 491 2,156
ơ 473 2,077
ưa 443 1,946
âu 439 1,928
ông 436 1,915
ê 408 1,792
ung 386 1,695
ư 385 1,691
anh 384 1,686
ôt 346 1,520
ươi 330 1,449
ên 308 1,353
on 295 1,296
iêu 294 1,291
e 274 1,203
an 271 1,190
ươc 267 1,173
âm 245 1,076
u 230 1,010

Nhận xét chung

- Nhìn chung nếu chia bình quân thì tần suất sử dụng các phím dấu thanh gần bằng các phím nguyên âm và lớn hơn tần suất dùng các phím phụ âm. Đây là một chi tiết rất quan trọng mà chúng ta sẽ cần dùng trong phần so sánh các kiểu gõ Telex, VNI dưới đây.

- Nhưng xét trị tuyệt đối thì phụ âm n và hai phím nguyên âm a, o đứng đầu bảng tức là dùng nhiều nhất, trong cả 2 kiểu gõ.

III. Các luật gõ tiếng Việt

Mô hình cấu trúc một từ tiếng Việt, dấu ngoặc tròn là thành phần luôn phải có, ngoặc vuông có thể có hoặc không:

[C] ((V1) [V2] [V3] [T]) [C]

Trong đó:

- C: phụ âm đầu

- V1: nguyên âm 1, luôn có ít nhất một nguyên âm

- V2: nguyên âm 2

- V3: nguyên âm 3

- T: dấu thanh

- C: phụ âm cuối

Các luật gõ chính thức của các kiểu gõ Telex, VNI, TCVN 6064 chỉ là một bảng các quy tắc ánh xạ phím, khá quen thuộc nên chúng tôi xin lược bỏ để giới thiệu sang quy luật về vị trí dấu thanh, thiết thực hơn. Quy luật vị trí dấu thanh trên các tổ hợp nguyên âm, theo GS Hoàng Phê, như sau:

- 1. Khi chỉ có 1 nguyên âm thì dấu đặt trên nguyên âm đó

- 2. Khi có phụ âm cuối thì dấu nằm ở nguyên âm sát phụ âm cuối

- 3. Vần có nguyên âm đệm oa, oe, uê, uơ, uy thì dấu nằm ở nguyên âm chính (sau)

- 4. Các vần tận cùng là nguyên âm (có thể 2 hay 3 nguyên âm) và khác oa, oe, uê, uơ, uy thì dấu nằm trên nguyên âm đứng trước nguyên âm tận cùng.

Tuy nhiên qua thực tiễn ở VN thì các vần bất định oa, oe, uy phần nhiều vẫn theo kiểu bỏ dấu cũ, dấu thanh đặt trên nguyên âm đệm. Vì vậy các bộ gõ đều cung cấp khóa chuyển cho phép chọn kiểu bỏ dấu mới hay cũ cho chúng – bộ gõ m17n cũng thế.

IV. Phân tích ưu điểm của kiểu gõ Telex so với VNI, TCVN

Nhiều người khẳng định kiểu gõ Telex là tiện lợi nhất khi gõ thuần tiếng Việt, nhưng thuận lợi ở điểm nào thì lại không nói, ở đây chúng tôi thử phân tích:

- 1. Kiểu gõ Telex hoàn toàn chỉ sử dụng 3 hàng phím tiếng Anh cơ bản (QWERTY … ASDF … ZXCV…). Trong đó hàng phím ASDF… tiếng Anh là “home row” chính là hàng phím cơ sở, trong kiểu gõ 10 ngón tay thì hai ngón trỏ được định vị trên hai phím F, J trên hàng phím này (hai phím này có gờ nhỏ để đánh dấu), các ngón khác xếp tự nhiên ở các phím bên cạnh trên home row. Khi gõ 10 ngón tay, dễ dàng nhận thấy là ngón tay càng phải dời xa hàng phím cơ sở thì càng khó gõ đồng thời càng dễ gõ sai hơn. Kiểu gõ Telex có lợi thế hơn VNI và TCVN chính ở điểm này, do không dùng đến hàng phím số ở xa home row.

- 2. Trong kiểu gõ Telex, hàng phím cơ sở dễ gõ nhất đồng thời lại là hàng phím có tần suất sử dụng lớn nhất, tần suất của hai hàng còn lại cũng khá cân đối (xem bảng thống kê ở phần II).

- 3. Khi dùng kiểu gõ VNI tất cả các dấu phụ đều bị đẩy lên hàng phím số, phần lớn dấu phụ của kiểu gõ TCVN cũng thế, cho nên hàng phím khó gõ nhất này lại có tần suất sử dụng lớn nhất (xem bảng thống kê tần suất ở trên, hoặc có thể đoán qua con số 91% các từ tiếng Việt có dấu phụ).

- 4. Kiểu gõ VNI & TCVN bỏ phí không dùng đến 4 phím w, f, j, z ở khu vực dễ gõ. Trong khi Telex nguyên thủy chỉ bỏ phí một phím z thôi. Chú ý thêm là hai phím định vị quan trọng F, J trong kiểu gõ Telex được dùng với tần suất khá lớn thì VNI/TCVN lại bỏ phí.

- 5. Cơ chế gõ lặp phím để tạo dấu cho đ-â-ô-ê (các cải tiến hiện nay còn cho phép hủy dấu, mở rộng sang cả dấu thanh) của kiểu gõ Telex là rất tiết kiệm. Tuy cũng phải gõ 2 lượt phím như VNI nhưng thực chất ngón tay chỉ di chuyển lên xuống thêm chừng 5mm, đồng thời rất khó gõ sai. Chính các điện thoại di động cũng dùng cơ chế gõ lặp phím để sinh ra nhiều chữ, nên cơ chế này tạo cảm giác khá thân thuộc cho người dùng.

V. Phân tích nhược điểm của kiểu gõ Telex so với VNI, TCVN và định hướng giải quyết

Cho đến nay chúng tôi chỉ xác định được một nhược điểm của kiểu gõ Telex so với VNI và TCVN là khó gõ hỗn hợp Anh-Việt. Tiếc thay, đây lại là một nhược điểm chí mạng trong điều kiện giao lưu quốc tế rộng rãi ngày nay, nhất là với những người làm chuyên về KHKT, CNTT…

Tuy các phần mềm đều có phím nóng để chuyển qua lại giữa trạng thái gõ Anh và Việt, nhưng nhiều người lại không thích dùng mà muốn các bộ gõ tự động xử lý vấn đề này.

Để xử lý được việc gõ hỗn hợp thì trước hết bộ gõ phải được cung cấp các tiêu chí phân biệt từ Anh/Việt để quyết định xử lý từ đang đánh như tiếng Việt hay tiếng Anh, đây chính là chỗ mà mục này sẽ phân tích.

Giải quyết trọn vẹn nhất là gắn vào bộ gõ một modul kiểm tra chính tả và một từ điển chính tả tiếng Việt, tuy không khó nhưng cũng khá phiền phức. Nếu không thì phải tìm kiếm một số tiêu chí để chuyển tự động về tiếng Anh dựa trên phân tích, tổng hợp các quy luật chính tả, ngữ âm tiếng Việt. Sau đây xin giới thiệu một vài tiêu chí mà bộ gõ vi-telex mã nguồn mở chạy trên môi trường Linux của nhóm m17n (Viện AIST, Nhật Bản) đã ứng dụng:

- 1. Sau nguyên âm mà gặp các phụ âm cuối không có trong tiếng Việt thì cho chuyển sang tiếng Anh đến hết từ, sau đây sẽ gọi là “temp-escape”, cụ thể là các phụ âm sau: q,d,g,h,k,l,z,v,b.

- 2. Với các phụ âm đã mượn làm dấu tiếng Việt s,f,j,r,x thì không thể temp-escape như thế mà phải dùng kiểu gõ lặp lại. Nhấn lần đầu là tạo dấu, nhấn lần nữa là hủy dấu đồng thời temp-escape luôn, người dùng phải chủ động trong quyết định này.

- 3. Tiếng Việt là đơn âm nên với các từ có hơn 1 âm cũng cho temp-escape khi phát hiện âm thứ 2, như từ “changes” khi gõ đến “e” sẽ temp-escape cho nên “s” không bị biến thành dấu sắc nữa.

- 4. DD/dd chỉ là Đ/đ khi đứng đầu từ, còn lại cho temp-escape, ví dụ từ address.

- 5. w chỉ là ư khi đi ngay sau phụ âm, hoặc sau u/a/o để tạo dấu, còn lại vẫn là w, ví dụ từ view sẽ không bị biến ra vieư.

- 6. z chỉ xóa dấu khi trước đó đã có nguyên âm được bỏ dấu, còn lại cho temp-escape.

Dự kiến có thể đưa ra môt tiêu chí nữa là nhận dạng các tổ hợp phụ âm đầu kép của tiếng Việt, nhưng có lẽ hiệu quả không cao vì các phụ âm đó (ch, kh, ng, ngh, nh, tr, th, ph) cũng có trong các ngôn ngữ Latinh… Đưa vào quá nhiều tiêu chí sẽ làm code lộn xộn thiếu sáng sủa, nhiều hơn nữa thì quay về phương án kiểm tra qua từ điển chính tả lại hợp lý hơn.

VI. Các xu hướng cải tiến bộ gõ tiếng Việt

Xu hướng phát triển chung là gắn thêm vào bộ gõ các phần kiểm tra chính tả và hỗ trợ tốc ký, hoặc mở rộng cho các thứ tiếng dân tộc ở VN như chữ Nôm, Tày, Thái, Chăm… đó là những cải tiến nên có, có dịp chúng tôi sẽ giới thiệu ở một bài khác.

Ở đây chỉ bàn tới những cải tiến còn gây tranh cãi, ví dụ một số người dùng muốn có kiểu bỏ dấu tự do (cả dấu thanh lẫn dấu mũ, dấu móc), nhưng phân tích kĩ thì thấy kiểu bỏ dấu tự do này chỉ phù hợp với VNI, chứ với Telex thì sẽ làm trầm trọng thêm nhược điểm khó gõ hỗn hợp Anh Việt. Vấn đề là do các phím dấu trong kiểu gõ Telex có hai chức năng tạo dấu và chữ cái nên dễ bị lẫn lộn, còn trong VNI chỉ có một chức năng tạo dấu thôi. Các từ như data, Japan, common, receive khi gõ Telex kiểu bỏ dấu tự do thì hóa ra dât, Jâpn, cômmn, rêcive… Phải sáng suốt trong vấn đề này, không nên vì những nhận xét kiểu gõ này “thông minh”, kiểu gõ kia không mà sa vào những cái phức tạp, ít hiệu quả thực tiễn. VNI thêm các cải tiến này cũng không hiệu quả đến mức áp đảo được các ưu điểm của Telex đã phân tích trên. Còn Telex “học” theo VNI cải tiến này cũng không có hiệu quả gì hơn nếu không nói là ngược lại. Ví dụ Telex tự do gõ chữ ôm = omo, đầu tiên là tên bột giặt “OMO” sẽ biến ra ÔM, làm nặng thêm khuyết điểm khó gõ hỗn hợp Anh Việt, sau nữa là rất nhiều người chỉ quen gõ một tay thì cự ly di chuyển sẽ xa thêm: từ phím O sang M rồi về O cự li di chuyển gần gấp đôi so với gõ đúp O rồi chuyển sang gõ M. Gõ “thông minh” chưa rõ có lợi gì, nhưng tốc độ thì đã thua kiểu gõ “chân quê”.

Phan Anh Dũng (Huesoft)

Ưu nhược điểm từ mô hình web Wiki

May 22, 2009

Ngày nay khi nhắc đến các mạng xã hội, với vẻ ngưỡng mộ sâu sắc người ta thường nói về Wiki như mô hình xã hội thu nhỏ, nguồn tài nguyên khổng lồ. Vậy tại sao hàng triệu tình nguyện viên trên khắp thế giới lại tham gia viết Wiki? Đó là câu trả lời không dễ dàng chút nào.

Chữ “wiki” có gốc từ tiếng của thổ dân Hawaii (wiki wiki) có nghĩa là “nhanh”. Wiki với chữ “W” viết hoa ban đầu dùng để chỉ chương trình WikiWikiWeb do Ward Cunningham sáng tạo ra vào năm 1995. Ngày nay, khái niệm Wiki thường được dùng để chỉ các trang web sử dụng gói phần mềm wiki mã nguồn mở phổ biến nhất (MediaWiki) dùng cho các dự án của Tổ chức Quỹ Hỗ trợ Wikimedia (Wikipedia, Wikiquote, Wiktionary, Wikinews, Wikiversity,…) và các dự án độc lập khác.

Môi trường xuất bản tài nguyên trên web Wiki

H1. Môi trường xuất bản tài nguyên trên web Wiki (Nguồn hình: TG)

Giao diện mô hình web Wiki

H2. Giao diện mô hình web Wiki (Nguồn hình: TG)

So sánh mô hình web Wiki và cms 2.0, blog

H3. So sánh mô hình web Wiki và CMS 2.0, blog (Nguồn hình: TG)

1. Ưu điểm mô hình web Wiki

- Thành viên và khách vãng lai có thể dễ dàng tìm hiểu và trình bày bài viết bằng mã wiki. Nhóm mã Wiki cơ bản rất đơn giản nên mọi người có thể tiếp cận nhanh chóng thay vì phải mất nhiều thời gian để học ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản (html).

- tham gia đóng góp vào các dự án bằng nhiều cách thức đa dạng, phù hợp với năng lực của từng người. Sửa đổi, bổ sung, wiki hóa, viết mới, tải lên, chữa lỗi chính tả hay từ vựng, thảo luận với tác giả để nêu bật vấn đề.

- Web Wiki hoạt động trên nguyên tắc mô hình mở cả về nội dung và mã nguồn đối với mọi thành viên. Điều này có nghĩa là mỗi chủ đề có thể do đóng góp của một hay nhiều thành viên (sử dụng trí tuệ tập thể) trong khi các dạng web khác thì chỉ có người quản trị và đôi khi chính tác giả bài viết mới có quyền cập nhật bài viết. (H1. Wiki là mô hình bình đẳng về cộng đồng: mở về nội dung, đồng cấp về quyền hạn sử dụng)

- Thành viên web Wiki là cộng động tự điều hướng về các nguyên tắc hoạt động và cùng hỗ trợ nhau để phát triển nguồn tài nguyên. Đóng góp theo năng lực, đồng thuận, tôn trọng lẫn nhau và không công kích cá nhân là những nền tảng của web Wiki. Các thành viên tự lựa chọn bảo quản viên (SysOp), người này sẽ có quyền sửa đổi giao diện, trong khi ở các dạng web khác thì chỉ có admin mới được cấp quyền do đó Wiki mở cả về mã nguồn và giao diện đối với người dùng. (H2. Giao diện của Wiki hướng nội dung hơn: nội dung chính được đặt vào trọng tâm của trang, phần thảo luận được tách biệt thành một trang đi kèm giúp người đọc tiếp cận thông tin trực tiếp, không bị nhiễu)

- Wiki hoạt động trên cơ chế tự tổ chức. Không có nhiều sự khác biệt giữa người sysop, thành viên đăng ký và khách bởi tất cả đều có khả năng sửa đổi. Do đó, chức năng người quản trị không đóng vai trò quản lý thành viên mà là người hỗ trợ và tối ưu hóa giao diện (SysOp = system optimisers không giống Admin = administators)

- Mọi phiên bản theo thời gian của trang viết đều được lưu lại tách rời và có khả năng phục hồi. Điều này gần như “không thể” ở các dạng web khác. Người dùng qua đó có thể theo dõi lịch sử vận động của bài viết và can thiệp ở từng giai đoạn nếu muốn để có một phiên bản hoàn chỉnh hơn cũng như khắc phục những “lỗi”, “sai lầm” của thành viên khác. (H3. Mọi bài viết hay mọi chủ đề, do cấu trúc Wiki có thể sắp xếp theo nhiều hướng phân loại. Mỗi một bài viết có thể phân thuộc vào nhiều thể loại tùy theo nội dung của nó và có thể dể dàng dịch chuyển hay điều cách phân loại này theo mô hình cấu trúc “đa gốc, phân nhánh, liên kết đan nhau” bởi những người tham gia viết bài hay bởi sysop, qua đó người đọc có thể liên hệ được nội dung bài viết với bất kỳ khía cạnh liên quan nào với các bài viết khác hay cũng có thể truy nguyên đến các chủ đề xuất phát gốc của bài viết. Ngoài ra với cấu trúc sắp xếp hợp lý, người tham khảo còn có thể thấy được vị trí và vai trò của đề tài so với đồ hình tổng quan tương đối của tổng thể)

- Các chủ đề hay bài viết đều có thể dể dàng tìm thấy nhờ vào máy truy tìm dữ liệu sẵn có trên hệ thống Wiki (search engine build-in), độc giả còn có thể tìm ra bài viết theo các hệ thống phân loại cổ điển (điều này không thể có được ở các mô hình web khác). Nhiều bài viết tương cận và liên hệ đến cùng một chủ đề cũng có thể tìm ra cùng một lúc nếu biết sử dụng bộ từ khoá hợp lý bằng Việt ngữ qua đó có thể thấy được đề tài mình muốn trong tầm nhìn rộng hơn. Điều này giúp những nguời học tập hay nghiên cứu chưa đủ trình độ ngoại ngữ được tiếp cận kiến thức mà không bị trở ngại do ngoại ngữ.

- Với các dự án toàn cầu đa ngôn ngữ, web Wiki cho phép khả năng tham chiếu nội dung bài viết trong các phiên bản thuộc ngôn ngữ khác nhờ kết nối Interwiki. Độc giả biết nhiều ngoại ngữ có thể tham chiếu cùng một đề mục được nhìn nhận như thế nào về nội dung và hình thức ở mỗi cộng đồng ngôn ngữ.

2. Wiki không hề đơn giản

Người viết bài này không có ý định nói về những hạn chế của Wiki bởi rất nhiều lần truyền thông quốc tế đã đưa tin về tác hại, nội dung bịa đặt, thiếu chính xác và vu khống trong một một số bài viết trên Wikipedia về các nhân vật đang sống.

Wiki là mô hình hợp tác xã hội mở, bất kỳ ai cũng có thể sửa đổi và viết bài trên Wiki nên không khó tránh khỏi những hành vi phá hoại, đưa thông tin quảng cáo, vu khống hoặc đùa cợt. Web Wiki chỉ thực sự sống khi hữu ích cho cộng đồng và được cộng đồng người dùng đón nhận và tình nguyện tham gia. Hầu hết các dự án web Wiki trên thế giới đều hướng tới mục đích phi lợi nhuận nên thật khó khăn khi đi xin từng viên gạch (tài chính) để xây ngôi nhà “của mình”. Tinh thần tự nguyện là nền tảng thu hút mọi người tham gia web Wiki nhưng cũng là khó khăn trong hoạt động bảo quản (đảm bảo chất lượng, hình thức bài viết cũng như khắc phục hành vi phá hoại bài viết) và đề ra những nguyên tắc, quy định phát sinh trong quá trình phát triển ở từng dự án.

Nam Hy Hoàng Phong

Dongtac.net

Baidu đánh bại Google tại Trung Quốc

May 22, 2009
Mới ra đời năm 1999, nhưng Baidu đã trở thành công cụ tìm kiếm số một tại thị trường Trung Quốc, vượt qua Google và Yahoo.

Công ty này đứng thứ tư toàn cầu về số lượt truy cập. Vậy thành công đã đến với Robin Li, người sáng lập ra nó, như thế nào?

Phân loại thông tin

Robin Li sinh năm 1968 ở một thành phố nghèo cách Bắc Kinh hơn 300 km về phía tây nam. Tốt nghiệp ĐH Bắc Kinh năm 1991, anh được Suny Buffalo trao học bổng tiến sĩ ở Mỹ.

Thấy học vấn chưa phải là vấn đề quan trọng nhất, Li quyết định chỉ học hết bằng thạc sĩ năm 1994 và đầu quân cho chi nhánh của Dow Jones & Company ở New Jersey. Anh làm việc trong nhóm phát triển chương trình phần mềm cho tờ Wall Street Journal. Trong thời gian này, anh dành nhiều thời gian giải quyết vấn đề cơ bản nhất của Internet: phân loại thông tin.

Năm 1996, kỹ sư trẻ này đạt được bước đột phá khi phát triển thành công cơ chế tìm kiếm “phân tích kết nối”, đánh giá mức độ phổ biến của trong web dựa trên số trang web kết nối tới đó. “Tôi rất vui”, Li nhớ lại. “Tôi nói với sếp nhưng ông không quan tâm”.

Sau phần trình bày của Li tại một hội thảo ở Thung lũng Silicon về phần mềm này, Trưởng nhóm công nghệ Infoseek William I. Chang quyết định tuyển anh vào vị trí giám sát phát triển công cụ tìm kiếm Infoseek. “Có lẽ Robin là người thông minh nhất mà tôi từng biết”, Chang nhận xét. “Những phần mềm tìm kiếm của anh xếp hạng vàng”. Tuy nhiên, sau đó, Infoseek tập trung vào nội dung thay vì tìm kiếm.

Chán nản, Li quyết định thành lập công ty Baidu với người bạn Eric Xu ở Bắc Kinh. Họ được 2 quỹ đầu tư tài chính Integrity Partners và Peninsula Capital đầu tư 1,2 triệu USD. 9 tháng sau, Draper Fisher Jurvetson và IDG Technology Venture đổ thêm 10 triệu USD nữa.

Baidu bắt đầu cung cấp dịch vụ tìm kiếm cho các cổng thông tin Trung Quốc rồi sau đó mới phát triển công cụ tìm kiếm riêng. “Chúng tôi hoài nghi khả năng kinh doanh từ tìm kiếm”, Scott Walchek, thuộc Integrity Partners và thành viên ban quản trị Baidu, nhớ lại. “Nhưng chúng tôi không thông minh bằng Robin. Robin nói anh ấy có cơ hội có một không hai xây dựng thương hiệu tìm kiếm. Và anh ấy đã đúng”.

Thực ra, Li đã thấy tiềm năng kiếm tiền sau thành công của công ty Overture ở Pasadena, California khi bán chỗ quảng cáo lúc kết quả tìm kiếm hiển thị.

Khám phá sở thích của giới trẻ = thành công

Tháng 9/2001, trang web của Baidu bắt đầu hoạt động. Baidu kiếm tiền bằng cách bán chỗ quảng cáo và khách hàng trả tiền theo số lần click chuột của người sử dụng. Số lượt truy cập tăng mạnh và doanh nghiệp bắt đầu có lãi từ năm 2004. Trang web của Baidu thu hút hàng triệu người vào tải nhạc, lập blog và tìm ảnh người đẹp…

Lý giải điều này, giới phân tích cho rằng đối tượng khách hàng của Baidu hoàn toàn khác với phương tây vì người Trung Quốc thích giải trí hơn tin tức, đọc sách hay thuê xe nhiều. “70% số người sử dụng Internet ở Trung Quốc chưa đến 30”, Richard Ji, nhà phân tích của Morgan Stanley, nhận định. “Hầu hết chưa có gia đình và muốn giải trí”.

Theo các nhà phân tích, tại thị trường Trung Quốc, cho đến nay chưa công ty nào phát triển nhanh như Baidu. Hiện nay hãng chiến 62% về thị phần tìm kiếm, nhiều hơn gấp đôi so với Google.

Tuy nhiên, Baidu đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Cổ phiếu của hãng quá cao so với giá trị thực và ban quản lý phải tìm mọi cách để có tăng trưởng. Trong khi nhà đầu tư Google chi 60 USD để lấy 1 USD lợi nhuận chứng khoán, thì nhà đầu tư Baidu phải trả đến 190 USD cho 1 USD lợi nhuận.

Baidu còn bị kiện vi phạm luật bản quyền âm nhạc vì cấp đường link tới trang web nhạc. Tuy nhiên, công ty vẫn tiếp tục làm như vậy và cho rằng không có chuyện họ phải chịu trách nhiệm chỉ vì giới thiệu địa chỉ site khác.

Trong khi đó, một bệnh viện tại Bắc Kinh khẳng định nhân viên Baidu cố tình click vào quảng cáo của bệnh viện để khách hàng phải trả nhiều phí hơn. Đại diện nhà cung cấp dịch vụ khẳng định sẽ theo dõi có gian lận không.

Google thì tuyên bố chi hàng trăm triệu USD để cạnh tranh với Baidu tại thị trường đông dân nhất thế giới. Yahoo sáp nhập với Alibaba.com của Trung Quốc. Tuy nhiên, doanh nhân Đại lục không ngại đối thủ từ Mỹ. Năm 2003, eBay mua lại công ty đấu giá lớn nhất nước này rồi để mất thị phần. Năm 2004, tình trạng tương tự xảy ra với Amazon sau khi mua trang web mua sắm lớn nhất Trung Quốc. Giới phân tích nhận định mọi chuyện không dễ dàng với Google.

“Các doanh nghiệp Internet Mỹ chiếm ưu thế ở Mỹ và châu Âu”, Brueschke nói. “Nhưng họ đến Trung Quốc rồi thất bại. Liệu Google có tạo ra điều gì khác biệt không?”. Về phần mình, Robin Li vẫn không hề lo lắng. “Số lượt truy cập trang web của chúng tôi vẫn tăng”, anh nói đầy tự tin. “Chúng tôi giờ là website số 1 ở Trung Quốc”.

(theo Tuổi Trẻ)


Vì sao người Trung Quốc không vui?

May 22, 2009

Dư luận Trung Quốc hiện đang om xòm bàn thảo về một cuốn sách phát hành hôm 12-3 vừa rồi có tên Trung Quốc không vui (tiếng Anh: Unhappy China), phụ đề Thời đại lớn, mục tiêu lớn và những nỗi lo bên trong bên ngoài của chúng ta. Bìa sách còn in câu: Vì nước nói thẳng, thay trời hành đạo – toàn những đại ngôn nghe mà sợ!

Một trong những thảo dân không vui biểu tình chống tham nhũng

Bestseller này lập tức làm rúng động dư luận trong ngoài nước. Toàn văn sách được tung ngay lên mạng, ai cũng có thể đọc miễn phí; suy ra có lẽ tác giả viết sách chủ yếu để gây dư luận. Sách đang gây ra một cuộc tranh cãi gay gắt giữa hai phái tả và hữu trong nước.

Thời điểm phát hành sách cũng không ngẫu nhiên – ba tuần trước ngày họp Hội nghị thượng đỉnh G20 London – nơi người Trung Quốc kỳ vọng nước họ sẽ có tiếng nói quan trọng, quyết định, nhất là đề xuất “cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế”, nói toạc ra là hất đồng dollar Mỹ ra khỏi ngai vàng đồng tiền dự trữ của thế giới, thay bằng một đồng tiền siêu chủ quyền như SDR (Quyền rút vốn đặc biệt, của IMF) hoặc trong tương lai, bằng đồng Nhân Dân Tệ. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đến một hội nghị quốc tế với vị thế cao hơn bao giờ hết, vì họ hiện có lượng dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới và là quốc gia duy nhất giữ được mức tăng trưởng kinh tế 8% trong khi cả thế giới đều suy giảm, thậm chí tăng trưởng âm.

Vì sao Trung Quốc không vui ?

Lẽ ra ở thời điểm này người Trung Quốc phải vui mới đúng, vì nước họ vừa vượt Đức trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, lại vừa tổ chức thành công một Thế vận hội tuyệt vời, và hai phi công vũ trụ của họ đã ra ngoài khoảng không vũ trụ mấy chục phút. Thế thì vì sao họ lại kêu mình không được vui?

Theo các báo nước ngoài thì đó là do gần đây Trung Quốc gặp một số rắc rối trong quan hệ quốc tế: vấn đề quần đảo Trường Sa ở biển Nam, đảo Điếu Ngư ở biển Đông, hôm 13-2 tàu tuần duyên Nga bắn chìm tàu chở hàng Trung Quốc ở cảng Nakhodka, tàu đo đạc không vũ trang của hải quân Mỹ tới cách đảo Hải Nam (nơi Trung Quốc đặt căn cứ tàu ngầm) 120 km để thăm dò, một công ty Pháp bán đấu giá mấy bức tượng đầu con thú vốn là di sản lịch sử của Trung Quốc … những vụ việc mà tác giả sách cho là nước họ bị “bắt nạt” mà chính phủ họ lại “xử nhũn” khiến họ bất bình. Họ muốn Trung Quốc có thái độ kiên quyết hơn với phương Tây, nhất là với Mỹ – “đất nước chúng tôi ghét nhất nhưng lại luôn hướng tới”, như lời một tác giả sách.

5 đồng tác giả sách này đều là các nhân vật công chúng, các tiểu tướng trẻ được gọi là “Tiểu bình đầu” (tiểu tướng đầu húi cua, đại diện cho tầng lớp “thảo dân”) đang nổi tiếng về những quan điểm có màu sắc chủ nghĩa dân tộc. Riêng Tống Cường từng tham gia viết cuốn Trung Quốc có thể nói Không (China Can Say No) xuất bản năm 1996, hồi ấy là tác phẩm được dư luận nước này quan tâm nhiều nhất trong 20 năm qua và làm rúng động phương Tây một thời. Tống giải thích: Trung Quốc có thể nói Không thể hiện ý “Trung Quốc chỉ muốn tự lãnh đạo nước mình”, còn Trung Quốc không vui nói lên ý “Trung Quốc có khả năng lãnh đạo thế giới”.

Có thể đặt câu hỏi: phải chăng người không vui không phải là toàn dân Trung Quốc mà là các tác giả sách? Với quan điểm quen tự xưng là trung tâm tinh hoa thế giới, họ hậm hực vì nước mình đã đủ khả năng lãnh đạo thế giới mà vẫn cứ chịu sự chi phối của phương Tây trên lĩnh vực kinh tế tài chính.

Phản ứng của dư luận trong nước

Dư luận Trung Quốc phản ứng khác nhau. Phái “tả” khen, phái “hữu” (phái “tự do chủ nghĩa”) chê. Có người cho rằng tác giả sách đã nói thẳng về chính sách đối nội đối ngoại của nhà nước. Có ý kiến cho là sách có quan điểm quá khích, có tính chất đầu cơ. Mạng phtv.ifeng.com viết: sách này là sản phẩm của thời đại phát triển mới của Trung Quốc, giúp nhà nước “phát hiện vấn đề, đưa ra chủ trương”. Sách cho rằng do sa ngã trước tiền tài trợ của các Quỹ nghiên cứu khoa học và tiền phong bì mà giới trí thức Trung Quốc trở nên quá thân phương Tây, đánh mất độc lập tự chủ. Trung Quốc cần ngửa bài toàn diện, “cắt đứt có điều kiện” với phương Tây, thậm chí có thể “cầm gươm kinh doanh”. Trung Quốc nay đã phát triển mạnh, điều quan trọng không còn là cộng đồng quốc tế nhìn nhận Trung Quốc ra sao mà là Trung Quốc nên nhìn thế giới và xác định vị trí của mình ra sao. Sách này là sự tiếp nối của sách Trung Quốc có thể nói Không.

Giới trí thức (đối tượng bị các tác giả sách chê trách) có những ý kiến khác. Giáo sư Trầm Đinh Lập, phó Giám đốc Viện Quan hệ quốc tế trường ĐH Phục Đán, nói quan điểm của Trung Quốc không vui chỉ sẽ làm cho người Trung Quốc càng thêm ngu muội; “tác giả sách viết giới trí thức Trung Quốc hạ thấp vai trò nước mình là vơ đũa cả nắm, tôi cho rằng đa số trí thức Trung Quốc đều tiến bộ, nhìn nhận đúng những thiếu sót của dân tộc ta.” Giáo sư Thời Ân Hoằng ở trường ĐH Nhân dân Trung Quốc nói một số vấn đề sách này nêu ra đáng để suy nghĩ, song trong sách có rất nhiều câu quá lời, nhiều thái độ quá khích; các tác giả sách có đặc điểm của phái tả là “lắm ý kiến phê phán, ít ý kiến xây dựng”. GS Trầm không tán thành quan điểm nên “cắt đứt có điều kiện” với phương Tây; ông nói: “Ta lạc hậu thế này, chưa kịp leo cao, tại sao lại cắt đứt với phương Tây?” GS Thời cho rằng trước đây Trung Quốc có thái độ quá tả với phương Tây, quá cô lập, quá dân tộc chủ nghĩa, “Những năm gần đây chúng ta thắng được trào lưu tả, kiên quyết cải cách mở cửa, song cũng có một số địa phương hơi quá hữu, ỷ lại vào phương Tây, hơi có nhiều ảo tưởng, điều đó ta nên suy ngẫm.”

Phản ứng của dư luận phương Tây

Timesonline.co.uk viết: Trung Quốc không vui đầy mầu sắc chủ nghĩa dân tộc, phê phán mạnh mẽ phương Tây và tầng lớp tinh anh (elite) Trung Quốc. Sách viết: “Cùng với sự tăng trưởng nhanh chưa từng có về quốc lực, Trung Quốc chớ nên khúm núm quỵ lụy mà nên hiểu rằng trên thực tế Trung Quốc có thực lực lãnh đạo thế giới và cần thoát khỏi ảnh hưởng của phương Tây.” Sách dùng lời lẽ mạnh mẽ nhất chĩa vào Mỹ và quy kết Mỹ gây ra tình trạng nguy hiểm cho kinh tế Trung Quốc. “Nếu ví thế giới là cái chợ thì Mỹ giống như tay trùm thế lực xã hội đen (Mafia don) của cái chợ đó.” Tổng thống Pháp Sarkozy cũng đáng lên án vì đã tiếp Đạt Lai Lạt Ma.

Báo Economist viết: sự trỗi dậy của Trung Quốc làm cho chủ nghĩa dân tộc ngóc đầu, phái tả quay trở lại. Về đối ngoại, lãnh đạo Trung Quốc cho tới nay vẫn giữ phương châm vờ ngu giả dại của Đặng Tiểu Bình. Nhưng dư luận nước ngoài thì lại có lập luận G2, tức Trung Quốc và Mỹ nắm vận mạng kinh tế thế giới – lập luận đó khiến cho một số học giả Trung Quốc ra sức hô hào Trung Quốc nên lợi dụng cuộc khủng hoảng này để mở rộng ảnh hưởng của mình.

Tờ Financial Times viết: tác giả sách trình bày tình cảm không vui của Trung Quốc và kiến nghị nếu muốn giải tỏa tâm trạng đó thì Trung Quốc phải dũng cảm đối kháng phương Tây, phải giành lấy vị trí cần có của một nước lớn toàn cầu. Đồng tác giả Tống Cường nói: một nước lớn mới trỗi dậy như Trung Quốc chỉ có hai lựa chọn, hoặc là trở thành một quốc gia bá chủ (hegemon), hoặc một quốc gia bị bỏ rơi; tôi muốn lựa chọn đầu tiên. Một bài tiếp theo trên Financial Times có đầu đề Bestseller targets China’s angry youths. Tác giả sách muốn gửi tới các thanh niên Trung Quốc tức giận trước việc phương Tây bắt nạt họ (như đoàn rước đuốc Olympic qua Paris, London bị gây rắc rối …) một thông điệp: họ chính là những anh hùng.

Bản điện tử của báo Telegraph (Anh) viết: Trước G20 London, Trung Quốc không vui đã gây ra cuộc tranh cãi về việc nước này có nên đóng vai trò lớn hơn trên sân khấu quốc tế hay không. Cho dù sắp trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới nhưng Trung Quốc lại không ở trong hàng ngũ G8 mà chỉ là một thành viên thê đội hai của G20. Bắc Kinh có ảnh hưởng rất yếu đối với WB và IMF, và rất dễ chịu ảnh hưởng từ sự thay đổi hối suất đồng USD. Tác giả sách nói Trung Quốc cần cứng rắn hơn với kẻ địch, kể cả trừng phạt Tổng thống Pháp Sarkozy năm ngoái tiếp Đạt Lai Lạt Ma. Sách viết: “Nếu anh có gan thì hãy phát động một cuộc chiến tranh, nếu không thì anh hãy câm miệng!” “Nếu Trung Quốc là cường quốc số Một thế giới thì ít nhất nó sẽ không hành sự như nước Mỹ hiện nay: háu ăn biếng làm, vô trách nhiệm, tham lam, sa đọa tới mức ăn cướp, lừa đảo và đem lại suy thoái kinh tế cho cả thế giới.”

Đài BBC bình luận: Trung Quốc không vui phàn nàn về chính sách ngoại giao mềm yếu vờ ngu giả dại chỉ biết chờ thời của chính phủ. Tác giả sách tin rằng ngoại giao Trung Quốc cần phản ánh tình cảm của nhân dân, họ viết: chúng ta đã tẩy chay các siêu thị Pháp vì họ mưu toan phá hoại giấc mơ Olympics, chúng ta đã vẫy cao cờ đỏ để phản đối chỉ trích của báo chí phương Tây, nhưng tại sao ngoại giao Trung Quốc vẫn cứ chơi lá bài thỏa hiệp, và vì sao trí thức Trung Quốc phản ứng yếu ớt và đồng lõa với thứ ngoại giao “mềm yếu” (của chính phủ)? Họ bày tỏ tiếng nói lớn hơn từ Trung Quốc đại lục, khẳng định quyền chính danh của Trung Quốc ở Olympics và trên Biển Đông. Tạp chí Time viết: nếu không ngăn chặn tình cảm dân tộc thì nó có thể thúc đẩy Bắc Kinh áp dụng đường lối cô lập, hiếu chiến.

***

Nhìn tổng quát các cuộc tranh luận trên sách báo, trên mạng và trên các diễn đàn của người Trung Quốc thời gian qua, có thể thấy dường như ban lãnh đạo nước này chủ trương cho dư luận được nói khá thoải mái mọi quan điểm “tả” hoặc “hữu”, kể cả các ý kiến phê phán đường lối chủ trương đối nội đối ngoại của lãnh đạo, cho dù các “thảo dân” hay dùng những lời lẽ đại ngôn rất khó nghe. Mặt khác, ta cũng quan sát thấy cách hành xử các vấn đề đối ngoại của lãnh đạo Trung Quốc không mấy chịu ảnh hưởng của “tình cảm” dân chúng trong nước.

Xu thế chung của thời đại hiện nay là các quyết sách của lãnh đạo chủ yếu phải dựa vào sự tham mưu của tầng lớp tinh anh nước mình. Trong thực tế Trung Quốc không vui chẳng mấy ảnh hưởng tới cách hành xử của Trung Quốc tại Hội nghị thượng đỉnh G20 London. Tại hội nghị này Trung Quốc đã không đưa ra vấn đề dùng một đồng tiền khác thay thế đồng dollar Mỹ để làm đồng tiền dự trữ quốc tế, cho dù dư luận Trung Quốc từng làm rùm beng vấn đề này tới mức người ta tưởng rằng đồng USD sắp bị cho vào sọt rác đến nơi. Thực ra những người có chút kiến thức kinh tế thừa hiểu giả thử kinh tế Mỹ có suy thoái đi nữa thì cũng chưa một đồng tiền nào có thể dễ dàng thế chân đồng USD – quá trình ấy đòi hỏi hàng chục năm, và với cái giá không nhỏ. Đồng Euro ra đời đã khá lâu mà đâu có làm suy suyển vị trí độc tôn của đồng USD.

Cũng tại London, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã “phá lệ” nhận lời gặp (sau đó còn ngỏ lời cảm ơn) Tổng thống Pháp Sarkozy; mặc dù thời gian qua dư luận Trung Quốc lên án ông Sarkozy thậm tệ, thậm chí còn tẩy chay hệ thống siêu thị Carrefour của Pháp ở Trung Quốc, bất chấp hơn trăm đại siêu thị Carrefour này thuê ngót năm chục nghìn nhân viên bản xứ và bán hàng Trung Quốc là chính, tẩy chay như thế chỉ làm hại chính mình ! Xin nhớ là chương trình nghị sự của ông Hồ công bố trước khi rời Bắc Kinh không có mục gặp ông Sarkozy ! Có thể vì thế sau đấy Sarkozy (được Obama khuyên giải) đã không khăng khăng đòi đưa Hong Kong và Macau vào danh sách đen các “Cảng trốn thuế (tax havens)” nữa – một việc có thể làm mất thể diện Trung Quốc. Thế mới biết cách hành xử đối ngoại bao giờ cũng rất linh hoạt và chẳng có ai mãi mãi là thù hoặc là bạn, như Churchill từng nói. Nếu lãnh đạo thiếu tỉnh táo mà cứ nghe theo “tình cảm” của dân chúng thì sẽ tạo ra lắm bất lợi cho nước mình. Một học giả Trung Quốc là ông Hư Châu mới đây từng phê phán quan điểm bạn thù của đồng bào ông – yêu ghét cực đoan, “thù dai”, không như người Nhật dám “dĩ địch vi sư” (nhờ thế học được lắm điều hay và tiến nhanh, vượt cả “sư”), ngược lại còn “dĩ hữu vi địch”, chuốc lấy lắm kẻ thù.

Có thể hiểu Trung Quốc không vui là do tuy đã là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới (và sắp sửa thứ hai, thậm chí thứ nhất đến nơi) mà nước này trên lĩnh vực kinh tế tài chính vẫn cứ phải chịu sự chi phối của phương Tây, nhất là của Mỹ. Các tác giả sách này muốn nói lên tình cảm bực tức, hậm hực của người bị thiệt vì chưa được làm lãnh đạo, tuy cho rằng mình đủ tài đủ lực.

Người ta có thể thông cảm với tâm lý đó của người dân bình thường, song cũng xin nhắc là muốn làm lãnh đạo thì phải trả giá lớn lắm, phải đóng góp nhiều, phải “gương mẫu” hơn. Chẳng hạn Mỹ góp 29% hội phí của Liên Hợp Quốc (theo tỷ lệ của Mỹ trong GDP toàn cầu). Dường như Trung Quốc chưa sẵn sàng làm thế. Trước G20 London, Phó Thủ tướng Vương Kỳ Sơn nói Trung Quốc sẽ đóng góp cho quốc tế theo tiêu chuẩn GDP bình quân đầu người. Tại hội nghị này họ hứa góp 40 tỷ USD cho IMF trong khi Nhật và EU mỗi hộ góp 100 tỷ. Với đóng góp như thế, quyền biểu quyết (voting rights) của họ trong IMF chỉ tăng từ 3,807% lên tới 3,997%, kém xa con số 17% của Mỹ. Nói cách khác, bỏ ra 40 tỷ USD để có thêm 0,19% quyền biểu quyết – một cái giá quá đắt !

Ông Trịnh Vĩnh Niên, Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Á của Đại học Quốc gia Singapore, nói: năng lực kinh tế thực thể và các mặt chế độ chính trị, xã hội của Trung Quốc hiện chưa đủ để giúp họ đảm trách vai trò lãnh đạo quốc tế; việc Trung Quốc quá sớm đóng vai trò này sẽ không có lợi cho sự phát triển bền vững của họ; nhiều nhất chỉ có thể thỏa mãn tình cảm dân tộc chủ nghĩa của mình mà thôi. Ông nhận xét: từ Đặng Tiểu Bình trở đi, Trung Quốc lựa chọn cách tiếp nhận thể chế hiện có và lợi dụng nó để leo cao, song vì thể chế đó do phương Tây xây dựng và dẫn dắt nên Trung Quốc không thể thay đổi được địa vị bị chi phối; nhiều nhất họ chỉ biểu thị sự bất mãn mà thôi. Ông khuyên: trong khi không thể từ chối trách nhiệm cần gánh vác của một nước lớn, Trung Quốc chẳng nên đưa ra những cam kết quốc tế quá mức, lại càng chưa cần thiết quá sớm tranh quyền lãnh đạo thế giới; lựa chọn duy nhất của họ nên chỉ là phân quyền lãnh đạo.

Nhà kinh tế độc lập Albert O. Hirschman thì nói Trung Quốc tuy oán trách hoặc hậm hực với trật tự đó nhưng biểu hiện thì vẫn “trung thành” với nó, chỉ hy vọng cải tiến chứ chưa rút ra (exit).

Có lẽ ý kiến của hai ông kể trên đều đúng. Xin nói thêm: mọi quyết định của IMF chỉ có hiệu lực khi được 85% số phiếu tán thành, mà riêng Mỹ đã chiếm 17% số phiếu, nếu Mỹ không đồng ý thì chẳng bao giờ thông qua được nghị quyết nào, vì tổng số phiếu còn lại chỉ có 83%. Rõ ràng, thay đổi trật tự quốc tế hiện có trong lĩnh vực tài chính sẽ thật sự là một quá trình lâu dài, gian nan, phải trả giá đắt.

Biểu hiện của Trung Quốc tại hội nghị G20 London cho thấy quả thực họ chưa có ý muốn chuyển dịch quyền lực quốc tế, mà vẫn chung sống hòa bình với trật tự hiện có của thế giới (tức để Mỹ lãnh đạo). Hãy xem một thực tế nữa: mặc dù dư luận Trung Quốc ồn ào bàn tán rất lo cho số công trái Mỹ nước mình nắm giữ có thể bị giảm giá trị do đồng USD sụt giá, nhất là sau khi FED quyết định mua 300 tỷ USD công trái này, nhưng bản tin sáng 16-4 của mạng Tân Hoa cho biết riêng tháng 2 năm nay Trung Quốc mua thêm 4,6 tỷ USD công trái Mỹ; thời gian 2-2008 đến 2-2009 mua thêm 267,3 tỷ USD. Các số liệu của Bộ Tài chính Mỹ cho thấy lượng công trái Mỹ do Trung Quốc giữ đã từ 744,2 tỷ USD tháng 2 năm nay tăng lên 767,9 tỷ USD trong tháng 3. Con số này chưa tính đến lượng công trái Mỹ do Hong Kong (đặc khu hành chính của Trung Quốc) sở hữu; đã từ 76,3 tỷ USD tăng lên 78,9 tỷ USD. Những số liệu trên cho thấy dù mấy năm nay Trung Quốc đang cố đa dạng hóa dự trữ ngoại tệ, nhưng cho tới nay họ vẫn là nước mua công trái Mỹ nhiều nhất. Tháng 3 năm nay Trung Quốc công khai tỏ ý lo ngại về sự an toàn của lượng khổng lồ công trái Mỹ của họ, song chính trong tháng đó Bắc Kinh lại mua thêm 23,7 tỷ USD công trái Mỹ, là tháng mua nhiều công trái nhất kể từ 11-2008.

Tóm lại, câu “đừng nghe người ta nói, hãy xem người ta làm” có lẽ đúng trong trường hợp xem xét cuốn Trung Quốc không vui. Quan điểm đại diện cho đất nước 1,3 tỷ dân này có lẽ phải là quan điểm của tầng lớp tinh anh chứ không phải của tầng lớp “thảo dân”, mặc dù họ đông tới 70%,

Từ Trung Quốc có thể nói Không đến Trung Quốc không vui, suy ra ít năm nữa, khi nước này soán ngôi nhất thế giới về GDP mà vẫn chưa tranh được vai trò lãnh đạo thế giới thì các “thảo dân” của họ sẽ có thể nói gì, tiếp tục không vui hay gì gì nữa đây?

Nguyễn Hải Hoành

dongtac.net

Những sai lầm lớn khi chế biến món ăn

May 22, 2009
Để việc lựa chọn thực phẩm và chế biến món ăn thực sự đạt được hiệu quả và đem lại những hữu ích cho sức khỏe thì trước hết bạn cần loại trừ những sai lầm “khổng lồ” dưới đây:

Mua thực phẩm cho cả một tuần

Các bà nội trợ thường có thói quen tích trữ thực phẩm trong cả một thời gian dài. Tuy nhiên, đây lại là một sai lầm khổng lồ. Bởi thịt, cá, rau xanh, hay trái cây nếu để quá lâu sẽ bị thất thoát đi hàm lượng lớn vitamin, khoáng chất vốn có. Chính vì thế, việc trữ thực phẩm trong cả một tuần dài sẽ làm thực phẩm bị mất đi giá trị dinh dưỡng.

Cho nên, các chuyên gia dinh dưỡng khuyên bạn nên mua thực phẩm và sử dụng chế biến chúng ngay sau đó, tránh để lưu giữ quá lâu.

Mua quá nhiều thực phẩm đóng hộp

Những loại thực phẩm đóng hộp thường có nhiều muối và chứa nhiều chất béo bão hòa, ít chất xơ và ít dinh dưỡng.

Vì thế, nếu muốn thực phẩm phát huy hết tác dụng tối đa của nó thì bạn hãy cố gắng ăn các loại thực phẩm còn tươi sống, chưa qua quá trình chế biến.

Ngoài ra, nếu có chọn ăn đồ hộp bạn cũng cần đọc kỹ các thông số, chỉ tiêu trên nhãn hộp để hiểu rõ loại thực phẩm mình định mua.

Không thích ăn những thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật

Những loại thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật chứa chất béo như trái bơ, lạc, vừng, dầu ô-liu là những loại thực phẩm rất có lợi cho sức khỏe. Thêm vào đó, chúng còn là nguồn thực phẩm có chứa một lượng lớn chất xơ và khoáng chất hữu ích.

Cho nên, các chuyên gia dinh dưỡng khuyên bạn nên bổ sung thêm các loại thực phẩm có lợi này vào trong chế độ ăn uống thường ngày.

Bạn có thể trộn dầu dấm, làm sốt, hay món salat ngon tuyệt với những chất béo có lợi trong các loại thực phẩm nói trên.

Dùng tỏi ngay sau khi đập

Việc cho tỏi vào ngay món ăn sau khi mới đập tỏi là thói quen của không ít những bà nội trợ.

Tuy nhiên, bạn cần hiểu rằng khi tỏi được đập dập nó sẽ làm sinh ra một phản ứng enzym giải phóng một hợp chất chứa lưu huỳnh rất có lợi cho sức khỏe. Do vậy, nếu có thêm thời gian thì hợp chất tạo thành sẽ hoàn chỉnh hơn và do đó tác dụng của chúng lên cơ thể cũng toàn diện hơn.

Vì thế để tỏi có thể phát huy được hết công dụng và tính năng của nó, trước khi xào nấu hay pha chế các món ăn có tỏi, bạn nên đập dập giã hay băm tỏi trước đó 10 phút.

Bỏ vỏ hoa quả khi ăn

Hầu hết các loại trái cây đều có lớp vỏ và cùi bên ngoài, sau đó mới đến phần thịt. Đa số mọi người đều có thói quen nên bỏ đi lớp vỏ ngoài này.

Tuy nhiên, bạn nên biết rằng hầu hết các chất chống ôxy hóa và polyphenol đều nằm ở gần hoặc ngay trong vỏ trái cây.

Riêng hàm lượng chất chống ôxy hóa ở phần vỏ nhiều gấp 2-27 lần ở phần thịt, do đó bạn nên cố gắng tận dụng phần vỏ trái cây.

Theo VTC


Hello world!

May 19, 2009

Welcome to WordPress.com. This is your first post. Edit or delete it and start blogging!


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.